KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ 04 MÔ HÌNH SẢN XUẤT HỒ TIÊU ỨNG DỤNG CÁC GÓI KỸ THUẬT TIÊN TIẾN ĐỂ ĐẢM BẢO AN TOÀN, KHÔNG DƯ LƯỢNG HÓA CHẤT NÔNG NGHIỆP, GIẢM PHÁT THẢI CO2

Trần Thị Diệu Hiền, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây Hồ tiêu.

 1. Đặt vấn đề.

Ngành sản xuất và xuất khẩu Hồ tiêu Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt mang tính lịch sử. Dù giữ vững vị thế nhóm đầu thế giới về sản lượng, chúng ta đang phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe từ các thị trường cao cấp như Liên minh Châu Âu (EU) và Hoa Kỳ. Các thị trường này liên tục siết chặt giới hạn dư lượng tối đa cho phép (MRL) đối với các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các hoạt chất hóa học phổ biến thường được sử dung trong canh tác nông nghiệp như: Cypermethrin, Imidacloprid, Metalaxyl, Permethrin,… . Song song đó, tập quán canh tác truyền thống, lạm dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hóa học đã và đang gây suy thoái hệ sinh thái đất, làm tăng phát thải khí nhà kính (CO2​) và làm giảm năng lực cạnh tranh quốc tế của hạt Hồ tiêu Việt Nam.

Trước yêu cầu cấp thiết về việc chuyển dịch sang nền nông nghiệp xanh, Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây Hồ tiêu thực hiện nghiên cứu và xây dựng các mô hình sản xuất hồ tiêu theo hướng an toàn, kiểm soát dư lượng và giảm phát thải nhằm kiểm soát và tiến tới không còn tồn dư hóa chất. Dự án có sự đồng hành, tài trợ chiến lược từ Công ty TNHH Olam Việt Nam, cùng sự hợp tác của Công ty TNHH Điền Trang trong việc cung ứng toàn bộ các giải pháp sinh học. Sự tham gia phối hợp chặt chẽ của các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp kiểu mẫu tại địa phương đã tạo nên chuỗi liên kết 4 nhà bền vững. Bài báo này sẽ đánh giá toàn diện kết quả sau 1 năm thực hiện mô hình trình diễn nhằm làm cơ sở khoa học cho các đề xuất định hướng sản xuất hồ tiêu bền vững.

2. Quy mô và phương pháp triển khai.

2.1. Thiết kế mô hình và Đối tượng theo dõi

Mô hình được triển khai thực địa từ năm 2025 đến năm 2026 trên các vườn hồ tiêu giai đoạn kinh doanh tại khu vực Tây Nguyên (Gia Lai và Lâm Đồng).

Dự án đã lựa chọn 04 hộ nông dân trình diễn tiêu biểu. Đây là các nhân tố điển hình, đại diện cho những cách thức sản xuất đặc trưng nhất của vùng lõi Hồ tiêu Tây Nguyên:

  1. Mô hình Trương Công Quân (Gia Lai)

Giống hồ tiêu: Giống Vĩnh Linh

Năm trồng: 2015.

Loại trụ: Trụ sống (cây keo dậu).

Hình thức & Cách thức canh tác: Trồng thuần 1.600 trụ/1,0 ha.

  1. Mô hình Nguyễn Bảo Trường Lâm (Gia Lai)

Giống hồ tiêu: Giống Vĩnh  Linh

Năm trồng: 2019.

Loại trụ: Trụ sống (cây keo dậu).

Hình thức & Cách thức canh tác: Trồng thuần 1.600 trụ/1,0 ha.

  1. Mô hình Nguyễn Văn Cung (Lâm Đồng)

Giống hồ tiêu: Giống Vĩnh  Linh

Năm trồng: 2018

Loại trụ: Trụ sống (cây gòn)

Hình thức & Cách thức canh tác:

Trồng xen 1.000 trụ hồ tiêu với 500 cây cà phê vối trên 1,0 ha.

  1. Mô hình Lê Sỹ Hữu (Lâm Đồng)

Giống hồ tiêu: Giống Vĩnh Linh

Năm trồng: 2017

Loại trụ: Trụ sống (cây gòn).

Hình thức & Cách thức canh tác: Trồng xen hồ tiêu với cà phê và cây ăn quả.

Mật độ & Cách thức trồng xen:

Mật độ cây chính: Khoảng 900 trụ tiêu và 700 cây cà phê vối trên 1 ha.

Mật độ cây trồng xen thêm: Khoảng 120 cây ăn quả/ha (gồm bơ, sầu riêng, mắc ca). Các cây ăn quả này hiện còn nhỏ chưa cho năng suất

Hình 1: 04 mô hình sản xuất hồ tiêu cảnh quan an toàn, không dư lượng hóa chất nông nghiệp, giảm phát thải CO2

 2.2. Gói kỹ thuật cốt lõi áp dụng

Gói giải pháp kỹ thuật cải tiến được thiết kế đồng bộ dựa trên 4 trụ cột chính:

+ Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM): giảm tối đa thuốc hóa học, thay thế bằng các biện pháp sinh học.

+ Bổ sung vi sinh vật có lợi: Ứng dụng các chế phẩm sinh học đặc hiệu để kiểm soát nấm bệnh gây hại và cải tạo sức khỏe của đất.

+ Dinh dưỡng cân đối: Tăng mạnh tỷ lệ phân hữu cơ vi sinh, phân chuồng hoai mục; giảm tối thiểu phân đạm vô cơ.

+ Canh tác sinh thái: Giữ thảm cỏ che phủ đất, thiết lập vùng đệm, hệ thống cây che bóng, chắn gió và hàng rào sinh học.

Hình 2: Sử dụng phân Hữu cơ vi sinh và chế phẩm sinh học để kiểm soát nấm bệnh gây hại và cải tạo sức khỏe của đất

Hình 3: Thiết kế hàng rào sinh học; cây che bóng, cây trồng xen; duy trì thảm che phủ để tạo tiểu khí hậu ổn định, giảm áp lực sâu bệnh.

2.3. Phương pháp theo dõi và đánh giá hiệu quả mô hình

Đánh giá hiệu quả mô hình áp dụng nguyên tắc so sánh trước – sau (đối chiếu trực tiếp dữ liệu niên vụ mô hình 2025-2026 với niên vụ nền trước đó 2024-2025).

+ Thu thập số liệu và theo dõi ghi chép nhật ký chăm sóc mô hình như sử dụng phân bón, thuốc BVTV, tưới nước và các can thiệp trên mô hình.

+ Phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên mẫu hạt hồ tiêu đầu kỳ và cuối kỳ với 26 hoạt chất. Mẫu được phân tích tại SGS và Eurofins.

+ Đánh giá phát thải CO₂ được thực hiện thông qua thu thập và xử lý số liệu bằng phần mềm SSI EFT tool do IDH cung cấp nhằm xác định dấu chân carbon của mô hình.

+ Theo dõi năng suất hạt hồ tiêu và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình.

3. Kết quả đạt được sau 1 năm triển khai.

3.1. Hiệu quả giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Sau 1 năm áp dụng quy trình IPM và chế phẩm sinh học, tất cả các hộ tham gia mô hình đều ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt sự phụ thuộc vào thuốc hóa học, tuy nhiên mức độ chuyển đổi có sự phân hóa theo từng hộ.

Bảng 1: Biến động sử dụng thuốc BVTV giữa hai niên vụ của các mô hình

STT

Tên hộ nông dân

Niên vụ 2024–2025 (Baseline)

Niên vụ 2025–2026 (Mô hình)

Giảm lượng (%)

Giảm số lần (%)

1

Trương Công Quân

3 loại / 3 lít / 2 lần

2 loại / 2,5 lít / 2 lần

−16,7%

0,00%

2

Nguyễn Bảo Trường Lâm

6 loại / 6 lít / 4 lần

2 loại / 2,5 lít / 2 lần

−58,3%

−50,0%

3

Nguyễn Văn Cung

8 loại / 9 lít / 5 lần

3 loại / 3,5 lít / 3 lần

−61,1%

−40,0%

4

Lê Sỹ Hữu

6 loại / 6 lít / 3 lần

3 loại / 3,0 lít / 3 lần

−50,0%

0,00%

Nguồn: Tổng hợp số liệu dự án 2025–2026

Ghi chú: Loại: số loại hoạt chất sử dụng. Lượng: số lít thương phẩm sử dụng

Việc áp dụng mô hình đã giúp giảm rõ rệt lượng thuốc BVTV sử dụng tại các hộ tham gia. Hộ Nguyễn Văn Cung và Nguyễn Bảo Trường Lâm đạt mức giảm cao nhất, với lượng thuốc sử dụng giảm lần lượt 61,1% và 58,3%, đồng thời số lần phun giảm 40–50%. Nguyên nhân chủ yếu là trước đây hai hộ này có thói quen phun phòng định kỳ với tần suất cao, nên khi áp dụng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp và tăng cường theo dõi vườn cây, lượng thuốc sử dụng đã giảm đáng kể. Ngược lại, hộ Trương Công Quân có mức giảm thấp nhất (16,7%) và không thay đổi số lần phun do ngay từ đầu đã sử dụng ít thuốc hơn so với các hộ còn lại. Bên cạnh việc giảm lượng thuốc sử dụng, cả 4 hộ đều được dự án hỗ trợ chuyển đổi sang các loại hoạt chất có mức độ an toàn cao hơn nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả phòng trừ sâu bệnh. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy dự án đã góp phần thay đổi tập quán sử dụng thuốc BVTV theo hướng an toàn và bền vững hơn.

3.2. Kiểm soát dư lượng hóa chất và rào cản MRL (EU & Hoa Kỳ)

Bảng 2: So sánh xu hướng dư lượng thuốc BVTV trước và sau mô hình

STT

Hoạt chất

Đầu kỳ (2024–2025) (mg/kg)

Cuối kỳ (2025–2026) (mg/kg)

MRL EU

MRL US

Đánh giá xu hướng

1

Permethrin

0,048 – 0,26

(4/4 mẫu > MRL)

0,042 – 0,226

(4/4 mẫu > EU)

0,01

0,05

Giảm nhẹ, vẫn vượt ngưỡng

2

Imidacloprid

0,076 – 0,14

(2 mẫu > MRL)

<0,01

0,05

1

Đã kiểm soát hoàn toàn

3

Acetamiprid

0,062

(1 mẫu > US MRL)

<0,01

0,1

0,01

Đã loại bỏ hoàn toàn

4

Cypermethrin

1,00

 (1 mẫu > MRL)

0,179 – 0,653

(2 mẫu > EU)

0,01

0,5

Giảm rủi ro, vẫn vượt EU

5

Fenobucarb

0,031

(1 mẫu > MRL)

<0,01

0,01

0,01

Đã loại bỏ hoàn toàn

6

Dimethoate

Không ghi nhận

<0,01 – 2,291

(1 mẫu vượt nghiêm trọng)

0,01

0,01

Phát sinh rủi ro

 cục bộ

7

Lambda-cyhalothrin

Không ghi nhận

<0,01 – 0,185

(1 mẫu vượt MRL)

0,1

0,1

Cần tăng cường kiểm soát

Bảng 3: Đánh giá an toàn mức tồn dư cuối kỳ (niên vụ 2025–2026)

STT

Hoạt chất

Khoảng giá trị (mg/kg)

MRL EU

MRL US

Kết luận an toàn nông sản

1

Metalaxyl

<0,01

0,05

0,3

An toàn đạt chuẩn

2

Imidacloprid

<0,01

0,05

1

An toàn đạt chuẩn

3

Permethrin

0,042 – 0,226

0,01

0,05

Vượt ngưỡng EU

4

Cypermethrin

0,179 – 0,653

0,01

0,5

Vượt EU, 1 mẫu vượt US

5

Dimethoate

<0,01 – 2,291

0,01

0,01

Nguy cơ cao

(vượt nghiêm trọng)

6

Lambda-cyhalothrin

<0,01 – 0,185

0,1

0,1

Vượt ngưỡng cục bộ

Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trên hạt tiêu cuối kỳ cho thấy nhiều tín hiệu tích cực. Các hoạt chất như Imidacloprid, Acetamiprid và Fenobucarb, từng ghi nhận vượt ngưỡng ở đầu kỳ, đều đã được kiểm soát hoàn toàn và không còn phát hiện hoặc chỉ ở mức dưới giới hạn định lượng (<0,01 mg/kg). Điều này cho thấy hiệu quả bước đầu của việc thay đổi tập quán sử dụng thuốc, ưu tiên các hoạt chất an toàn hơn và tăng cường áp dụng các giải pháp sinh học trong quản lý dịch hại.

Tuy nhiên, một số hoạt chất thuộc nhóm pyrethroid như Permethrin và Cypermethrin vẫn còn vượt ngưỡng MRL rất nghiêm ngặt của EU, dù mức tồn dư đã giảm so với đầu kỳ. Đáng chú ý, Dimethoate phát sinh cục bộ ở một mẫu với hàm lượng 2,291 mg/kg, vượt xa giới hạn cho phép. Nguyên nhân được xác định là do nhiễm chéo từ việc sử dụng thuốc để diệt kiến trên cây cà phê trồng xen trước thời điểm thu hoạch, dẫn đến chưa đảm bảo đủ thời gian cách ly đối với hồ tiêu. Điều này cho thấy vẫn còn tồn tại rủi ro trong quản lý thuốc BVTV trên hệ thống canh tác xen canh và sự cần thiết phải tuân thủ nghiêm thời gian cách ly trước thu hoạch.So sánh giữa các hệ thống canh tác cho thấy các vườn trồng xen hồ tiêu – cà phê có nhiều hoạt chất vượt MRL hơn và mức dư lượng cao hơn so với các vườn trồng thuần. Nguyên nhân là hệ thống trồng xen có áp lực sâu bệnh lớn hơn, danh mục thuốc sử dụng đa dạng hơn và khó kiểm soát đồng bộ thời gian cách ly giữa các cây trồng. Ngoài ra, các hoạt chất nhóm pyrethroid hiện vẫn được sử dụng khá phổ biến trên cà phê và các cây trồng lân cận, làm gia tăng nguy cơ nhiễm chéo dư lượng sang hồ tiêu thông qua quá trình phun xịt, nước tưới hoặc phát tán trong điều kiện gió mạnh. Đây được xem là “rủi ro kỹ thuật đặc thù” của mô hình trồng xen hồ tiêu – cà phê, cho thấy việc kiểm soát dư lượng trong hệ thống này phức tạp hơn nhiều so với trồng thuần và cần được quản lý chặt chẽ hơn thông qua áp dụng đồng bộ IPM, kiểm soát danh mục thuốc và tăng cường hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân.

3.3. Giảm thiểu dấu chân Carbon (Phát thải khí nhà kính)

Biểu đồ 1: So sánh phát thải CO2 theo nguồn giữa hai niên vụ 2024–2025 và 2025–2026

Sử dụng công cụ tính toán dấu chân môi trường SSI Environmental Footprint Tool (SSI-EFT) dựa trên phương pháp Đánh giá vòng đời (LCA), kết quả cho thấy mô hình bước đầu có khả năng giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc tối ưu hóa sử dụng vật tư đầu vào. Tổng lượng phát thải CO₂ giảm từ 13,5–21,5% ở 3/4 mô hình. Hộ ông Nguyễn Bảo Trường Lâm giảm mạnh nhất (−21,5%), tiếp theo là Nguyễn Văn Cung (−19,0%) và Lê Sỹ Hữu (−13,5%). Mức giảm chủ yếu đến từ việc giảm phân đạm hóa học, giảm sử dụng thuốc BVTV và tiết kiệm điện, dầu cho tưới tiêu; riêng hộ Lê Sỹ Hữu giảm tới 38,5% năng lượng tiêu thụ cho bơm tưới.

Riêng hộ ông Trương Công Quân có phát thải tăng nhẹ (+2,7%) do phát sinh thêm lượng vôi và vật tư cải tạo đất trong giai đoạn đầu chuyển đổi nhằm xử lý nền đất chua. Tuy nhiên, đây vẫn là hộ có tổng mức phát thải thấp nhất trong cả hai niên vụ.

Kết quả này cho thấy phát thải khí nhà kính trong sản xuất hồ tiêu phụ thuộc lớn vào mức độ sử dụng phân bón hóa học và năng lượng tưới. Đồng thời, hiệu quả giảm phát thải giữa các hộ chưa đồng đều do chịu ảnh hưởng bởi điều kiện đất đai, mức độ thâm canh và hiện trạng canh tác ban đầu của từng vườn. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi sang canh tác phát thải thấp cần có lộ trình phù hợp theo từng điều kiện sản xuất cụ thể.

3.4. Hiệu quả kinh tế và cơ cấu chi phí sản xuất

3.4.1. Phân tích hiệu quả kinh tế cuối kỳ

Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế cho thấy sự khác biệt rõ về cơ cấu đầu tư và khả năng sinh lợi giữa mô hình trồng thuần và trồng xen trong điều kiện giá nông sản niên vụ 2025–2026 ở mức cao (hồ tiêu khô: 145.000 đồng/kg; cà phê tươi: 22.000 đồng/kg).

Các mô hình trồng thuần có tổng chi phí sản xuất thấp và ổn định hơn (137,1–137,9 triệu đồng/ha), trong khi năng suất hồ tiêu duy trì khá tốt, giúp lợi nhuận đạt từ 195,6–225,4 triệu đồng/ha. Điều này cho thấy mô hình trồng thuần có ưu thế về quản lý đầu vào, mức độ rủi ro thấp hơn và phù hợp với định hướng sản xuất ổn định, an toàn.

Bảng 4: Năng suất và hiệu quả kinh tế của 04 mô hình (tính trên 1 ha)

Nội dung

Mô hình trồng thuần

Mô hình trồng xen cà phê

Trương Công
Quân

Nguyễn Bảo
Trường Lâm

Nguyễn Văn
Cung

Lê Sỹ Hữu

 Năng suất hồ tiêu

(kg khô/ha)

               2.300  

               2.500  

               1.200  

               1.700  

 Năng suất cây trồng xen

 (kg tươi/ha)

                    –    

                    –    

               6.500  

             11.250  

 Nhân công chăm sóc,

làm cỏ, tưới 

      24.900.000  

      25.900.000  

      40.000.000  

      43.200.000  

 Nhân công Phun phân bón lá, thuốc BVTV

        3.000.000  

        3.200.000  

        8.500.000  

        3.900.000  

 Nhân công Bón phân

        5.000.000  

        4.000.000  

        4.500.000  

        8.500.000  

 Nhân công Thu hoạch,

sơ chế sau thu hoạch

      45.000.000  

      46.000.000  

      43.000.000  

      62.000.000  

 Vật tư phân bón, thuốc BVTV

      60.000.000  

      58.000.000  

      76.000.000  

     125.000.000  

 Tổng chi phí sản xuất (đồng/ha)

    137.900.000  

     137.100.000  

     172.000.000  

     242.600.000  

 Doanh thu (đồng/ha)

    333.500.000  

     362.500.000  

     317.000.000  

     494.000.000  

 Lợi nhuận (đồng/ha)

    195.600.000  

     225.400.000  

     145.000.000  

     251.400.000  

Ngược lại, mô hình trồng xen Hồ tiêu – Cà phê giúp đa dạng hóa nguồn thu nhưng đòi hỏi chi phí đầu tư và nhân công cao hơn đáng kể, đặc biệt ở các khoản chăm sóc, thu hoạch và vật tư đầu vào. Hiệu quả kinh tế giữa các hộ trồng xen có sự phân hóa lớn: hộ Lê Sỹ Hữu đạt lợi nhuận cao nhất (251,4 triệu đồng/ha) nhờ năng suất cà phê xen cao, trong khi hộ Nguyễn Văn Cung chỉ đạt 145,0 triệu đồng/ha do chi phí đầu tư lớn nhưng doanh thu chưa tương xứng.

Kết quả này cho thấy mô hình trồng xen có tiềm năng nâng cao thu nhập và tận dụng hiệu quả tài nguyên đất, tuy nhiên hiệu quả phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý chi phí, năng suất cây trồng xen và mức độ ổn định của thị trường. Đồng thời, hệ thống trồng xen cũng phát sinh yêu cầu quản lý kỹ thuật phức tạp hơn, đặc biệt trong sử dụng vật tư đầu vào và kiểm soát dịch hại.

3.4.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu chi phí bền vững

Việc triển khai dự án đã bước đầu định hướng lại cơ cấu chi phí đầu vào của các hộ theo hướng tăng sử dụng chế phẩm sinh học, phân hữu cơ và giảm dần phụ thuộc vào phân bón hóa học, thuốc BVTV hóa học. Đây là sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy đầu tư, từ tập trung vào đầu vào hóa học sang chú trọng sức khỏe đất và tính bền vững của hệ thống canh tác.

Các hộ tham gia đều ghi nhận xu hướng tăng đầu tư cho chế phẩm sinh học (tăng 66,7–100%) và phân hữu cơ vi sinh (tăng 50% ở các mô hình trồng xen), đồng thời giảm mạnh chi phí thuốc BVTV hóa học (giảm 57,1–80,0%) và phân bón hóa học (giảm khoảng 30% ở các mô hình trồng xen). Nhờ đó, 3/4 mô hình có tổng chi phí sản xuất giảm từ 4,6–24,1% so với niên vụ trước.

Bảng 5: Chênh lệch giá trị và tỷ lệ chi phí so với niên vụ nền 2024-2025

(Đơn vị: 1.000 đồng / % biến động)

Vườn trình diễn

Chênh lệch về chi phí cho sản xuất* (1.000 đồng / %)

Chi phí Chế phẩm sinh học

Chi phí cho phân hữu cơ

Chi phí cho phân hóa học

Chi phí cho thuốc BVTV

Tổng

Trương Công Quân

+1.000 / +66,67%

0 / 0,00%

+1.500 / +10,42%

–2.000 /

–57,14%

500 / 0,99%

Nguyễn Bảo Trường Lâm

+1.000 / +66,67%

0 / 0,00%

0 / 0,00%

–3.500 /

–70,00%

–2.500 /

–4,60%

Nguyễn Văn Cung

+2.500 /

+100,00%

+5.000 / +50,00%

–9.720 /

–30,00%

–6.000 /

–80,00%

–13.220 / –24,06%

Lê Sỹ Hữu

+2.500 /

+100,00%

+5.000 / +50,00%

–8.640 /

–30,00%

–5.000 /

–76,92%

–11.140 / –22,17%

Ghi chú: dấu (+) thể hiện chi phí tăng, dấu (−) thể hiện chi phí giảm.

Mức độ chuyển dịch cơ cấu chi phí giữa các hộ có sự khác biệt rõ rệt. Các hộ Nguyễn Văn Cung và Lê Sỹ Hữu thay đổi mạnh hơn do nền canh tác ban đầu còn phụ thuộc nhiều vào phân bón và thuốc BVTV hóa học, trong khi hộ Trương Công Quân có mức điều chỉnh thấp hơn vì cơ cấu đầu tư trước đó đã tương đối phù hợp với định hướng của dự án.

Kết quả bước đầu cho thấy việc chuyển đổi sang canh tác an toàn, bền vững không làm gia tăng tổng chi phí sản xuất như lo ngại ban đầu, mà đang hình thành xu hướng tái cơ cấu đầu vào theo hướng hợp lý, giảm phụ thuộc hóa chất nông nghiệp và nâng cao tính bền vững của sản xuất hồ tiêu.

4. Đánh giá chung & bài học kinh nghiệm.

* Những kết quả bước đầu đạt được

Sau một năm triển khai, mô hình đã bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực trong định hướng sản xuất hồ tiêu an toàn, bền vững và phát thải thấp. Các hộ tham gia giảm rõ rệt lượng thuốc BVTV sử dụng, tinh giản số loại thuốc và tăng sử dụng các hoạt chất an toàn hơn. Đồng thời, việc áp dụng IPM, chế phẩm sinh học và phân hữu cơ góp phần giảm phát thải CO₂, cải thiện sức khỏe đất và nâng cao tính ổn định của vườn cây.

* Những tồn tại và bài học kinh nghiệm

Kết quả phân tích dư lượng cho thấy tình trạng tồn dư thuốc BVTV đã được cải thiện so với ban đầu, tuy nhiên mục tiêu “không dư lượng” tuyệt đối chưa đạt được. Một số hoạt chất vẫn còn vượt ngưỡng MRL, chủ yếu tại các vườn trồng xen hồ tiêu – cà phê, nơi việc kiểm soát thuốc BVTV phức tạp hơn do áp lực sâu bệnh cao và nguy cơ nhiễm chéo từ cây trồng xen.

Thực tiễn triển khai cho thấy quá trình chuyển đổi sang sản xuất an toàn cần thời gian, sự tuân thủ kỹ thuật đồng bộ và theo dõi liên tục trong nhiều niên vụ. Đặc biệt, đối với mô hình trồng xen, cần tiếp tục hoàn thiện các giải pháp quản lý thuốc BVTV, hàng rào sinh học và vùng đệm để nâng cao hiệu quả kiểm soát dư lượng trong các năm tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

  1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014). QCVN 01 – 172 : 2014/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật gây hại cây hồ tiêu.
  2. Cục Bảo vệ thực vật (2023). Quyết định số 846/QĐ-BVTV-TV ngày 28 tháng 3 năm 2023 về việc ban hành Chương trình và tài liệu đào tạo giảng viên TOT, huấn luyện nông dân FFS về quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội.
  3. European Commission (2005). Regulation (EC) No 396/2005 of the European Parliament and of the Council of 23 February 2005 on maximum residue levels of pesticides in or on food and feed of plant and animal origin. Official Journal of the European Union, L70: 1–16.
  4. European Commission (2026). EU Pesticides Database – MRLs for Peppercorn (black, green and white), Piper nigrum. Available at: https://ec.europa.eu/food/plant/pesticides/eu-pesticides-database (Accessed May 2026).
  5. IDH (2022). Sổ tay hướng dẫn công cụ SSI Environmental Footprint Tool (SSI-EFT).
  6. U.S. Environmental Protection Agency (EPA) (2021). Metalaxyl; pesticide tolerances. Federal Register, 86(184): 53278–53283. 40 CFR Part 180.
  7. U.S. EPA SPS Notification (2026). Imidacloprid; pesticide tolerance(s). Notification NUSA3553. Available through the WTO Sanitary and Phytosanitary Information Management System (SPS IMS).
  8. USDA Global Agricultural Information Network (GAIN) (n.d.). Maximum Residue Limits (MRL) Database – United States. Available at: https://www.fas.usda.gov/maximum-residue-limits-mrl-database (Accessed May 2026).