Nguyễn Xuân Hòa, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có khoảng 562.000 ha cà phê, trong số diện tích này có trên 100.000 ha cà phê đã già cỗi, cần phải tái canh. Việc trồng lại cà phê đang gặp trở ngại lớn do điều kiện đất trồng thay đổi sau một chu kỳ độc canh cà phê dài, thâm canh cao làm thay đổi tính chất vật lý và hoá học của đất, dẫn đến tích tụ và xuất hiện nhiều nấm bệnh, tuyến trùng gây hại cà phê với mật độ cao. Thực tế, nhiều diện tích cà phê trồng lại trên nền đất cũ thường bị chết, nguyên nhân chủ yếu bộ rễ bị hư hại do tuyến trùng tấn công làm thối nhanh rễ cà phê và tạo những vết thương cho nấm bệnh tấn công, cây sinh trưởng kém, vàng lá và thối rễ dẫn đến việc tái canh cà phê không có hiệu quả. Từ những kết quả nghiên cứu nhiều năm của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, chúng tôi đã xác định được nguyên nhân và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh vàng lá, thối rễ trong tái canh cà phê vối để sản xuất cà phê hiệu quả và bền vững.
- Nguyên nhân, triệu chứng và đặc điểm gây hại
1.1. Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh vàng lá thối rễ là do tác hại của tuyến trùng nội ký sinh di chuyển Pratylenchus coffeae (Zimmermann) và tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp. kết hợp với nấm Fusarium spp.và Rhizoctonia solani (Kuhn), trong một số trường hợp còn có sự phối hợp với rệp sáp hại rễ.
1.2. Triệu chứng
Cây sinh trưởng kém, vàng lá, héo khi thời tiết nóng hay khô, rễ bị thối, năng suất và chất lượng sản phẩm giảm. Triệu chứng vàng lá, thối rễ biểu hiện ở 2 bộ phận: trên mặt đất và dưới mặt đất.
– Triệu chứng trên mặt đất
Cây cà phê sinh trưởng và phát triển kém, chùn đọt, cây thấp, ít cành lá, hoa, quả, và lá vàng. Trong mùa mưa nếu chăm sóc tốt cây vẫn xanh, vào đầu mùa khô sau khi dứt mưa và chưa tưới nước, cây vàng lá rất rõ. Trường hợp bị nặng cây sẽ héo khi thời tiết nóng hay khô, lá rụng và có thể chết. Triệu chứng thể hiện rõ nhất ở cây cà phê sau tái canh 2 – 3 năm. Cây bị bệnh nặng dễ bị nghiêng khi gặp gió to và rất dễ nhổ lên bằng tay. Đối với cà phê kinh doanh, cây bị bệnh chậm phát triển (mặc dầu đã được chăm sóc, bón phân đầy đủ), lá vàng dần, cành khô, giảm năng suất và chất lượng vườn cây một cách đáng kể.
– Triệu chứng dưới mặt đất
Rễ tơ có các vết thương màu nâu đen, thối ở các vị trí khác nhau (đầu rễ, giữa rễ), rễ bị u sưng hay nốt sần, đầu rễ bị tù hoặc hình thành chùm rễ sát vị trí rễ bị bệnh, rễ ngang và rễ cọc cũng bị thối hay u sưng khi bệnh nặng. Giai đoạn kiến thiết cơ bản, các cây cà phê bị bệnh nặng khi nhổ lên có rễ tơ gần mặt đất phát triển mạnh, rễ tơ ở dưới mặt đất bị thối hoặc bị u sưng, rễ cọc bị thối chỉ còn phần gỗ. Đối với cà phê kinh doanh, các cây bị nặng thì rễ lớn cũng bị thối hay u sưng và rễ dần bị mục, cây không hấp thu và vận chuyển được nước và dinh dưỡng nên dẫn đến vàng lá và chết cây.
1.3. Đặc điểm phát sinh và gây hại của bệnh
Tuyến trùng và nấm bệnh chủ yếu sống trong đất và gây hại trên tất cả các độ tuổi cây cà phê tái canh, cả trong giai đoạn vườn ươm. Ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến trùng và nấm bệnh phát triển, tuy nhiên đất quá ẩm hay quá khô cũng làm chết tuyến trùng. Do đó bệnh vàng lá, thối rễ thường phát sinh mạnh vào các tháng của mùa mưa (trừ các tháng mưa dầm) do có điều kiện ẩm độ đất thích hợp và hệ thống rễ cây cà phê phát triển mạnh là nguồn thức ăn dồi dào cho tuyến trùng và nấm bệnh phát triển. Tuyến trùng và nấm bệnh có thể di chuyển theo nước nên biện pháp tưới tràn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh lây lan nhanh. Việc xới xáo, vét bồn trong các vườn cà phê đã bị bệnh cũng tạo điều kiện cho bệnh lây lan và phát triển vì tạo vết thương cho bộ rễ.
Đối với cà phê kinh doanh, bệnh thường xuất hiện ở những vườn cà phê già cho năng suất cao trong một thời gian dài nhưng không được bổ sung phân hữu cơ đầy đủ cũng như bón phân hóa học không cân đối.
Cà phê trồng lại trên các vườn cà phê già cỗi hay đang kinh doanh bị bệnh vàng lá thối rễ nặng thì mức độ thành công là rất thấp nếu không tuân thủ việc khai hoang, rà, thu gom rễ cẩn thận sau khi thanh lý và có thời gian luân canh thích hợp.
- Biện pháp phòng chống bệnh vàng lá thối rễ cà phê vối tái canh
2.1. Biện pháp quản lý cây giống
– Giống cà phê vối sử dụng cho tái canh
Sử dụng giống cà phê được cấp có thẩm quyền công nhận, được phép sản xuất kinh doanh như: TRS1, TR4,TR9, TR11.
– Ươm giống
Không sử dụng đất có nguồn tuyến trùng để ươm cây. Lựa chọn nguồn đất từ vườn/nơi không bị bệnh, phơi ải hoặc sấy khô,
Có thể xử lý đất làm bầu bằng các loại thuốc diệt tuyến trùng như: Vimoca 1,5 kg/1 m3 đất, Clinoptilolite (Map logic 90 WP), Abamectin (Tervigo 020SC), ĐIỀN TRANG – NEMA …, liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì. Sau xử lý thuốc 20 ngày mới trộn đều với phân chuồng hoai làm bầu giống theo tỷ lệ: 3m3 đất : 1 m3 phân chuồng : 15 kg phân lân nung chảy rồi mới đóng bầu và ươm cây giống.
– Chất lượng cây giống
Sử dụng cây giống thực sinh (TRS1) hoặc các giống ghép (TR4, TR9, TR11) 10 – 12 hoặc 18 – 20 tháng tuổi đảm bảo đạt tiêu chuẩn cây giống để trồng theo Quy trình tái canh cà phê vối, ban hành kèm theo Quyết định số 2085/QĐ-BNN-TT ngày 31 tháng 05 năm 2016 của Bộ NN&PTNN.
Tiến hành kiểm tra cây giống trước khi xuất vườn, loại bỏ những cây giống bị bệnh thối rễ hoặc rễ bị biến dạng, những cây giống bị nhiễm tuyến trùng phải xử lý tiêu huỷ để tránh lây lan nguồn bệnh.
2.2. Biện pháp canh tác
– Xác định thời gian luân canh
Tùy thuộc vào tình trạng vườn cây trước khi nhổ bỏ (tuổi, năng suất, sâu bệnh hại) để quyết định thời gian luân canh. Trước khi tái canh cà phê nếu có điều kiện thì có thể tiến hành lấy mẫu đất và rễ cà phê già cỗi hay đang thời kỳ kinh doanh bị bệnh để phân tích mật độ tuyến trùng gây hại cà phê (thời điểm lấy mẫu thích hợp là các tháng của mùa mưa, và không nên lấy vào các tháng có tiểu hạn hay mưa dầm). Tiêu chí xác định vườn có thể tái canh ngay được hoặc phải luân canh:
a) Vườn có thể tái canh ngay: Tuổi vườn cây trước thanh lý > 20 năm tuổi, sinh trưởng kém, bộ rễ bình thường hoặc có một vài vết thâm đen ở đầu rễ nhưng không bị vàng lá, chết cây do tuyến trùng và nấm gây hại. Năng suất thấp <1,5 tấn nhân/ha. Trong trường hợp có lấy mẫu phân tích, mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong đất (con/100 g đất) và rễ (con/5 g rễ) cà phê < 250 con.
b) Vườn cần phải luân canh 1 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới 20 năm tuổi, sinh trưởng kém, bộ rễ có nhiều vết thâm đen hoặc u sưng ở đầu rễ, tỷ lệ cây chết và vàng lá trước khi thanh lý < 10%. Năng suất thấp < 1,5 tấn nhân/ha. Trong trường hợp có lấy mẫu phân tích, mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong đất (con/100 g đất) và rễ (con/5 g rễ) cà phê từ 250 – 350 con.
c) Vườn cần phải luân canh 2 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới 20 năm tuổi, sinh trưởng kém, bị nhiễm bệnh ở mức trung bình (từ 10 đến , tỷ lệ cây chết, cây vàng lá trước khi thanh lý 10 – < 20%. Năng suất thấp < 1,5 tấn nhân/ha. Trong trường hợp có lấy mẫu phân tích, mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong đất (con/100 g đất) và rễ (con/5 g rễ) cà phê từ >350 – 450 con.
d) Vườn cần phải luân canh ≥ 3 năm: Tuổi vườn cây trên hoặc dưới20 năm tuổi, sinh trưởng kém, bị nhiễm bệnh nặng, tỷ lệ cây chết, cây vàng lá trước khi thanh lý > 20%. Năng suất thấp < 1,5 tấn nhân/ha. Trong trường hợp có lấy mẫu phân tích, mật độ tuyến trùng ký sinh tổng số trong đất (con/100 g đất) và rễ (con/5 g rễ) cà phê > 450 con.
– Biện pháp nhổ cây và rà rễ
Nhổ cây cà phê ngay sau khi thu hoạch (tháng 12 đến tháng 1 năm sau). Thu gom và đưa toàn bộ thân, cành, rễ ra khỏi lô.
Thời gian làm đất ngay sau khi kết thúc mùa mưa. Cày đất (bằng máy) sử dụng cày 1 lưỡi, cày 2 lần ở độ sâu 30 – 40 cm theo chiều ngang và chiều dọc của lô. Tiếp tục thu gom và dọn sạch các tàn dư thực vật trên vườn để loại bỏ các nguồn bệnh.
– Biện pháp phơi đất
Sau khi làm đất thì tiến hành phơi đất. Thời gian phơi đất từ tháng 2 đến tháng 4, tiếp tục bừa ở độ sâu 20 – 30 cm theo chiều ngang và chiều dọc lô. Trong quá trình bừa đất, tiếp tục gom nhặt rễ còn sót lại và đốt để tiêu hủy nguồn bệnh.
– Biện pháp luân canh
Cây trồng được sử dụng để luân canh phải là cây không phải là ký chủ của tuyến trùng.Một số loại cây có thể luân canh như: đậu đỗ, ngô, lúa cạn, bông vải… hoặc cây phân xanh họ đậu.Sau mỗi vụ luân canh, đất cần được cày phơi vào mùa nắng hàng năm, tiếp tục gom nhặt rễ cà phê còn sót lại và tiêu hủy để loại bỏ nguồn bệnh.
– Hố trồng và xử lý hố
Khoảng cách hố: 3 x 3 m (mật độ 1.111 hố/ha). Kích thước hố: 80 x 80 x 80 cm (dài x rộng x sâu), hố trồng tái canh cà phê không đào trùng với hố trồng cà phê đã đào bỏ trước đó.
Phân chuồng hoai mục, vôi, phân lân trộn đều với lớp đất mặt cho xuống hố với lượng bón theo Quy trình tái canh cà phê vối, ban hành kèm theo Quyết định số 2085/QĐ-BNN-TT ngày 31 tháng 05 năm 2016 của Bộ NN&PTNN. Công việc đào hố và bón lót phải hoàn thành ít nhất 01 tháng trước khi trồng.
Tiến hành xử lý tuyến trùng hố trồng trước khi trồng 15 ngày bằng một trong các loại thuốc sau: Clinoptilolite (Map logic 90WP), Ethoprophos (Vimoca 10GR), Carbosulfan (Marshal 5GR, Vifu – super 5GR), Benfuracarb (Oncol 5GR), liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì.
– Chăm sóc
Bón phân, tưới nước và trồng cây che bóng theo Quy trình tái canh cà phê vối, ban hành kèm theo Quyết định số 2085/QĐ-BNN-TT ngày 31 tháng 05 năm 2016 của Bộ NN&PTNN.
– Vệ sinh đồng ruộng
Thường xuyên kiểm tra vườn để phát hiện sớm để chữa trị các cây bị bệnh kịp thời; thu gom và tiêu hủy triệt để các tàn dư cây bị bệnh.
Làm cỏ, cắt cành và tạo hình cây cà phê cho thông thoáng để hạn chế sự phát triển nguồn bệnh trên vườn.
2.3. Biện pháp bảo vệ thực vật
Sử dụng biện pháp tổng hợp để phòng chống bệnh vàng lá, thối rễ trong tái canh cà phê.
+ Đối với cà phê tái canh thời kỳ kiến thiết cơ bản: Sử dụng cây giống cà phê sạch bệnh và năng suất cao để trồng. Thực hiện tốt quy trình khai hoang rà rễ, nhặt rễ; luân canh, cải tạo đất. Bảo đảm qui trình kỹ thuật trồng mới khi tái canh (bón lót đầy đủ phân hữu cơ, xử lý hố trồng), trồng xen, cây che bóng, đai rừng chắn gió.
+ Đối với cà phê tái canh thời kỳ kinh doanh: Bón phân đầy đủ, cân đối, đồng thời tăng cường việc bón phân hữu cơ và các chế phẩm sinh học cải tạo đất nhất là đối với các vườn cây đã cho năng suất cao trong nhiều năm, hạn chế xới xáo, làm bồn trong những vườn cây đã bị bệnh. Không tưới tràn từ vườn bệnh sang vườn không bệnh.
Thường xuyên kiểm tra vườn cây và phát hiện kịp thời để đào và tiêu hủy các cây bị bệnh vàng lá thối rễ nặng. Chỉ xử lý các cây bị bệnh nhẹ và các cây khỏe xung quanh để hạn chế, khoanh vùng và tránh lây lan. Phòng bệnh bằng biện pháp sinh học, trị bệnh kết hợp biện pháp hóa học và sinh học, và sau cùng sử dụng các sản phẩm kích thích và tăng cường sinh trưởng bộ rễ để cây cà phê bị bệnh dễ phục hồi.
– Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học cần được xem là biện pháp chính để phòng bệnh vàng lá thối rễ trong tái canh cà phê.
Các chế phẩm sinh học có thể sử dụng như: Paecilomyces lilacinus (Palila 500 WP), Chitosan (Oligo – Chitosan) (Jolle 1 SL, 40 SL, 50 WP; Kaido 50 SL, 50 WP), Clinoptilolite (Map logic 90 WP) và Abamectin (Tervigo 020SC), ĐIỀN TRANG – NEMA… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bìđể phòng trừ tuyến trùng. Có thể sử dụng Trichoderma viride (Biobus 1.00 WP), Trichoderma spp.(TRICÔ – ĐHCT), Chaetomium cupreum (Ketomium 1,5 x 106 cfu/g)… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì để phòng trừ nấm.
Các chế phẩm sinh học trên có thể áp dụng kết hợp với các đợt bón phân cho cây, rắc chế phẩm (trong vùng rễ xung quanh tán cây cà phê) rồi phủ lớp đất lên. Trong mùa khô có thể hòa chế phẩm sinh học trong nước để tưới.
– Biện pháp hóa học
Chỉ sử dụng thuốc hóa học để xử lý khi áp lực bệnh cao cho lần đầu tiên và chỉ tiến hành trên các cây cà phê bị bệnh, các cây xung quanh cây bệnh để cách ly, sau đó sử dụng các thuốc sinh học để phòng trừ bệnh. Một số loại thuốc hóa học có thể sử dụng như: Ethoprophos (Vimoca 10 GR), Carbosulfan (Marshal 5GR, Vifu – super 5GR), Benfuracarb (Oncol 20EC, Oncol 5GR)… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bìđể phòng trừ tuyến trùng. Các loại thuốc hóa học như: Cuprous Oxide (Norshiel 58 WP), Copper Hydroxide (DuPontTM KocideÒ 53.8 WG), Validamycin (Valijapane 5 L)… với liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì để phòng trừ nấm bệnh.
Thuốc hoá học phải được sử dụng theo nguyên tắc 4 đúng, chỉ sử dụng các thuốc đã được đăng ký sử dụng trên cây cà phê trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam năm 2016.









