Một số đóng góp của Ngành Lâm nghiệp Đắk Lắk từ 1975 đến nay

TS. Trần Ngọc Thanh

PCT Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp  tỉnh

     Đắk Lắk là một tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có đất đai màu mỡ, khí hậu thuận hòa, nắng trời đầy đủ, có lượng mưa hàng năm khá lớn, sông suối và nước ngầm nhiều, đồng cỏ rộng. Tất cả đó là tài nguyên quí giá đủ để tạo ra cuộc sống ấm no cho đồng bào địa phương và góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nguyễn Công Bá, 1995). Trải qua 44 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính quyền, cùng với tòan xã hội những người làm công tác lâm nghiệp, những người lao động nghề rừng đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, mội trường, an ninh quốc phòng để chúng ta có được những kết quả như ngày hôm nay. 

     Nhân kỷ niệm 60 năm ngày lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 – 28/11/2019), bài viết này ghi nhận lại một số đóng góp của ngành lâm nghiệp, của các bậc lãnh đạo tiền bối của ngành, của những người yêu rừng qua các thời kỳ. Mặc dù còn những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình xây dựng, phát triển ngành, nhưng ôn lại, khơi dậy truyền thống của ngành lâm nghiệp, một thời kỳ vẻ vang, là nhằm để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ, phát triển rừng, và nghề rừng Đắk Lắk trong thời gian đến, đưa lâm nghiệp Đắk Lắk thành ngành kinh tế mũi nhọn.

     Ngay từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cách mạng, sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ đối với Tây Nguyên và Đắk Lắk về lĩnh vực nông lâm nghiệp, Ty Nông Lâm Đắk Lắk đã được thành lập do đồng chí Nguyễn An Vinh (nguyên là cán bộ chỉ đạo sản xuất nông nghiệp từ chiến khu được quyết định trực tiếp phụ trách Ty Nông Lâm (sau này đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk từ tháng 10/1999 – 02/2001). Thời điểm ấy, để tham mưu giúp việc cho lãnh đạo Ty Nông lâm, lĩnh vực lâm nghiệp có Phòng Lâm nghiệp do đồng chí Y Sốt Niê (nguyên là cán bộ từ căn cứ ra) làm Trưởng phòng. Nhận thấy vai trò quan trọng của việc quản lý bảo vệ và xây dựng vốn rừng, Ngày 15/10/1975, UBND tỉnh ban hành Quyết định 159/QĐ-UBND tách Phòng Lâm nghiệp để hình thành Ty Lâm nghiệp, đồng chí Nguyễn Minh từ Chiến khu ra được giao nhiệm vụ Trưởng Ty; đồng chí Y Ly Niê Kđăm – Kỹ sư lâm nghiệp – làm Phó Trưởng Ty (sau này là PCT UBND tỉnh, CT HĐND tỉnh, Phó BT Tỉnh ủy, PCT UB Dân tộc của Quốc hội, PTB Chỉ đạo Tây Nguyên), đồng chí Y Sốt Niê – Phó Trưởng Ty kiêm phụ trách lực lượng Kiểm lâm. Trong những ngày mới thành lập, tình hình an ninh chính trị rất phức tạp,  ngành lâm nghiệp được giao quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp rất lớn (1.243.883 ha/1.980.000 ha đất tự nhiên). Nhiệm vụ chính của ngành trong thời điểm ấy là nhanh chóng tiếp nhận các cơ sở vật chất của kỹ thuật của các xưởng cưa gỗ tư nhân thông qua công tác cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để hình thành các xí nghiệp quốc doanh như: Xí nghiệp gỗ Tùng Lâm, Xí nghiệp gỗ Hòa Bình. Tập trung công tác quản lý lâm sản, quản lý bảo vệ rừng, xúc tiến thành lập các lâm trường quốc doanh nhằm phát triển kinh tế – xã hội, góp phần bảo đảm an ninh – quốc phòng. Bên cạnh đó, ngành lâm nghiệp còn được giao làm nhiệm vụ vai trò bà đỡ trong các lĩnh vực khi có nhiệm vụ đột xuất. Cán bộ công nhân viên các lâm trường đã góp phần giữ vững an ninh chính trị vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, thách thức. 

     Một năm sau ngày giải phóng, thực hiện nhiệm vụ của Trung ương giao ngành Lâm nghiệp tỉnh đã khai thác 90.000 m3 gỗ tròn phục vụ nhu cầu xây dựng trong cả nước sau chiến tranh. Chế biến 66.296 m3 gỗ xẻ làm thanh tà vẹt để góp phần cho ngành giao thông vận tải xây dựng đường sắt thống nhất. Chế biến 3.000 m3 ván sàn xuất khẩu sang Liên Xô  góp phần trả nợ nước bạn và tạo nguồn xuất khẩu, thu về ngoại tệ xây dựng đất nước. Ngoài ra, nhiệm vụ xây dựng vùng kinh tế mới để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, tiếp nhận lao động từ các tỉnh đồng bằng lên xây dựng Đăk Lăk, góp phần củng cố an ninh quốc phòng cũng được Đảng, Nhà nước giao cho ngành Lâm Nghiệp (Ban Chỉ đạo xây dựng vùng kinh tế mới Ea Súp – được thành lập ngày 24/9/1977 đón tiếp 10.000 đồng bào từ tỉnh Thái Bình đến xây dựng vùng kinh tế mới Ea Súp). Cùng hòa chung với nhiệm vụ sản xuất của toàn tỉnh, các nông lâm trường đã phát động phong trào khai hoang, phục hóa, sản xuất lương thực, thực phẩm. Từ chỗ phải xin trợ cấp của Trung ương tháng 6/1975 với 2.000 tấn lương thực, đến năm 1977, tỉnh cơ bản cân đối được lương thực.

     Tại Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ VII, diễn ra từ ngày 13-19/6/1977, Ngành Lâm nghiệp được giao nhiệm vụ xây dựng ngành lâm nghiệp “từng bước phát huy ưu thế về rừng. Hình thành 4 vùng lâm nghiệp trong tỉnh: Đắk Nông, nam Lắk, đông nam Krông Pắk, bắc và tây Krông Buk”. Nhiệm vụ Trồng mới 10.000 ha rừng; khai thác gỗ 150.000 m3; sản xuất 10.000 m3 gỗ xẻ các lọai; 10.000 m3 ván sàn xuất khẩu. Ngày 11/7/1977, tại cuộc họp lần thứ nhất Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khóa VII, đồng chí Trần Kiên được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy (sau này đồng chí là Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp 1979 – 1981). Trong giai đọan 1979 – 1982, nhiệm vụ chủ yếu của ngành lâm nghiệp đã chuyển dần từ khai thác khai thác là chính, sang xây dựng và phát triển vốn rừng làm trọng tâm, gắn với việc thực hiện định canh, định cư cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Tại Chỉ thị 49-CT/UB ngày 05/7/1980 UBND tỉnh giao nhiệm vụ các nông – lâm trường phải có trách nhiệm vận động các buôn làng nằm trong vùng quy hoạch vào nông lâm trường. 

     Để tiếp tục đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên, khai thác, quản lý tài nguyên rừng bền vững, xứng đáng là ngành kinh tế chủ lực, Bộ Lâm nghiệp đã đề xuất Hội đồng Chính phủ cho thành lập các Liên hiệp Lâm Nông Công nghiệp trên những vùng rừng tập trung, diện tích lớn, kinh doanh toàn diện lâm nông công nghiệp, ngày 12/12/2079 Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đã ký Quyết định số 439/CP thay mặt Hội đồng Chính phủ thành lập các Liên hiệp Lâm Nông Công nghiệp trực thuộc Bộ Lâm nghiệp. Trên cơ sở đó, Bộ Lâm nghiệp đã thành lập 02 Liên hiệp: Lâm Nông Công nghiệp Ea Súp (do đồng chí Phan Thanh Xuân là Tổng Giám đốc đầu tiên, sau này đồng chí là Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Phó chủ nhiệm UB Dân tộc TW) và LNCN Gia Nghĩa (do đồng chí Lê Tấn Đành làm Tổng Giám đốc đầu tiên, sau này là đồng chí Nguyễn Văn Lạng, nguyên CT UBND tỉnh Đắk Lắk, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) đóng chân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (bao gồm các huyện biên giới từ Ea Súp đến Đắk Nông, Đắk Rlấp). Hai Liên hiệp LNCN của Trung ương được giao quản lý quản lý diện tích trên 700 ngàn ha.

     Trong giai đoạn 1982 – 1986, giai đoạn thực hiện chuyển đổi cơ chế trong nông nghiệp, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, tạo tiền đề để bước vào thời kỳ đổi mới. Ngành lâm nghiệp đã được đánh giá có nhiều nỗ lực cao, đã được tổ chức lại và phát triển lên một bước. Trên cơ sở đó, Ty Lâm nghiệp đã tham mưu Thường vụ Tỉnh ủy cho phép thành lập Liên hiệp LNCN I Đắk Lắk trực thuộc địa phương quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh trên toàn bộ diện tích rừng và đất rừng thuộc huyện Đắk Mil để khép kín biên giới phía Tây của tỉnh. Năm 1985, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ Lâm nghiệp, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định 01/QĐ-UBND thành lập Liên hiệp LNCN I Đắk Lắk (do đồng chí Y Ly Niê Kđăm làm Tổng Giám đốc). Tại thời điểm này, trên toàn bộ biên giới phía Tây của tỉnh với 190 Km đường biên giới với nước bạn Cam Pu Chia đã có 03 Liên hiệp LNCN với các lâm trường được thành lập khép kín làm nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng vốn rừng, góp phần quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh trật tự xã hội trên toàn tuyến biên giới. Trên địa bàn tỉnh đã thành lập được 50 Lâm trường quốc doanh, 50 xưởng chế biến gỗ trực thuộc Liên hiệp LNCN và lâm trường. Tại thời điểm 1985, đã thành lập được 28 lâm trường (sau này tăng lên 50 lâm trường), 211 tiểu khu (sau này là 1.496 tiểu khu). Đã trồng thêm được 49.000 rừng (nhất là rừng Thông làm nhiệm vụ phòng hộ dọc Quốc lộ 14 từ Ea Hleo đi Gia Nghĩa), 4,9 triệu cây phân tán (tương đương 4.900 ha rừng), tu bổ, làm giàu và chăm sóc rừng 98.000 ha; khai thác gỗ cung cấp cho nhu cầu nhân dân cả nước 722.500 m3 gỗ tròn. Các lâm trường từng bước đưa việc quản lý rừng đi vào nề nếp, có phương án điều chế, có hệ thống phân trường, tiểu khu (như hệ thống quản lý rừng của các nước tiên tiến). Các cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành đã cùng nhau xây dựng hệ thống các quy trình, giải pháp kỹ thuật lâm sinh đã được nghiên cứu, biên soạn phục vụ cho việc điều tra, thiết kế các công trình kỹ thuật lâm sinh trên địa bàn tỉnh. Cùng với nổ lực của chính quyền địa phương, các Liên hiệp LNCN, lâm trường đã có nhiều đóng góp quan trọng về tài lực, nhân lực để hình thành các khu dân cư, điểm kinh tế mới. Các lâm trường quốc doanh thực hiện nhiệm vụ của Đảng giao không những làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ xây dựng vốn rừng mà còn làm nhiệm vụ xây dựng xã hội nghề rừng, cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, thương nghiệp, xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, gian khổ nhất, nguy hiểm nhất tại thời điểm ấy. Những cống hiến to lớn của những người lâm nghiệp thời kỳ đó đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp bảo đảm an ninh – quốc phòng của tỉnh.

     Giai đoạn 1986 – 1996, Tỉnh ủy chỉ đạo triển khai Chương trình lương thực, thực phẩm, sản xuất nông – lâm nghiệp, ngành lâm nghiệp cũng đã có nhiều cố gắng nổ lực. Bình quân hàng năm khai thác khoảng trên 300.000 m3 gỗ để góp phần giải quyết nhiều vấn đề về xây dựng kinh tế, giao thông, điện lưới quốc gia, đổi gỗ lấy gạo với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, giải quyết vấn đề lương thực, xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ… Riêng năm 1990, khai thác và tiêu thụ gỗ 325.200 m3. Trong đó, địa phương là 165.200 m3, Trung ương 160.000 m3. Công nghiệp chế biến gỗ cũng từng bước được phát triển, có 200 cơ sở chế biến gỗ lớn, nhỏ. Tình trạng xuất gỗ tròn ra khỏi tỉnh đã giảm dần. Nhờ những nổ lực phấn đấu, ngành lâm nghiệp tỉnh đã được Tỉnh ủy đánh giá cao, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của địa phương như: xây dựng hàng ngàn km đường giao thông nội tỉnh, hàng trăm km đường biên giới 6B, đường Đắk Mil – Tuy Đức, hàng chục công trình thủy lợi, cùng với công tác định canh, định cư cho hàng chục vạn hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều vùng kinh tế mới hình thành có sự tham gia đóng góp không nhỏ của ngành lâm nghiệp (như xã Nam Dong, huyện Cư Jút thành lập năm 1989. Từ hơn 1.000 dân, lên đến 6.000 dân sau 03 năm). Các vùng kinh tế mới không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, và có tầm quan trọng về an ninh – quốc phòng. Đến năm 1995, Chi cục Kiểm lâm đã thành lập được 17 hạt Kiểm lâm nhân dân tại các huyện và thành phố Buôn Ma Thuột; 03 Trạm kiểm lâm và kiểm soát lâm sản tại các huyện đầu mối (M’Đrắk, Ea H’leo, Đắk R’lấp) tiếp giáp với các tỉnh bạn để thực hiện chức năng quản lý lâm sản và bảo vệ rừng.

     Giai đoạn 1996 – 2000, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngành lâm nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới đã có những chuyển biến rõ nét. Tỉnh ủy đã chỉ ra các nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn này chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển kinh tế nông, lâm, nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Đối với ngành lâm nghiệp, Đảng bộ xác định nhiệm vụ bảo vệ rừng là quan trọng và cấp bách. Ngành lâm nghiệp đã tham mưu các cấp chính quyền đổi mới phương thức quản lý, bảo vệ rừng theo hình thức xã hội hóa nghề rừng, lâm trường quốc doanh theo phương thức lâm trường nhân dân. Chương trình giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng dân cư đã được triển khai, gắn với sự quản lý của các cấp chính quyền huyện, xã, thôn, buôn và được tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo. Trong giai đoạn này toàn tỉnh trồng mới được 10.500 ha rừng, khai thác trên 400.000 m3. Công tác quản lý bảo vệ rừng có nhiều tích cực đã hạn chế được một phần các vụ vi phạm lâm luật.

     Giai đoạn 2001 – 2005, Đảng bộ đã đề ra phương hướng, mục tiêu tổng quát bảo đảm phát triển kinh tế với tốc độ cao, ổn định trên cơ sở phát huy nội lực, khơi dậy tiềm năng to lớn của địa phương, kết hợp với việc tranh thủ các nguồn lợi từ bên ngoài, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển mạnh các ngành công nghiệp, dịch vụ. Trong đó, trọng tâm là chế biến nông lâm sản. Ngoài ra, ngành lâm nghiệp được giao nhiệm vụ tăng cường công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng, kiện toàn ban lâm nghiệp xã; tăng cường sự phối hợp của các cấp, các ngành trong công tác quản lý, ngăn chặn tình trạng vi phạm lâm luật. Cũng trong giai đoạn này, ngành lâm nghiệp được giao nhiệm vụ phối hợp với các ngành chức năng có liên quan tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai, rừng giai đoạn 2006 – 2010; quy hoạch các loại rừng, phân cấp quản lý rừng. Những chương trình lớn như Chương trình 132-QĐ/TTg, Chương trình 134-QĐ/TTg của Chính phủ về rà soát đất đai, cấp đất ở, đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc cũng đã được ngành tham gia tích cực góp phần quan trọng ổn định đời sống dân cư nông thôn, an ninh trật tự vùng nông thôn, xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh để triển khai Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia đến 2020.

     Cũng trong giai đoạn này, ngày 26/11/2003 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết 22/2003/QH11 về việc chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 02 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Về cơ cấu tổ chức của ngành lâm nghiệp cũng có những thay đổi. Diện tích tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk sau khi tách tỉnh còn lại 1.302.620 ha, với dân số là 1.666.854 người. Diện tích đất có rừng là: 604.807,5 ha (độ che phủ rừng 46,1%). Tổng trữ lượng gỗ của toàn tỉnh là 59 triệu m3 và hơn 355 triệu cây tre nứa. Toàn tỉnh trước khi tách tỉnh có 36 lâm trường, sau chia tách có 21 lâm trường thuộc địa phận Đắk Lắk (3 lâm trường có kế hoạch giải thể, thực chất sau này còn lại 18 lâm trường). Về chế biến gỗ có 40 doanh nghiệp (trong đó quốc doanh 30, DN tư doanh 10 đơn vị) và 450 cơ sở mộc dân dụng. Xuất khẩu lâm sản đạt khoảng 7 triệu USD, giá trị lâm sản tiêu thụ nội địa khoảng 60 tỷ đồng (2004). Ngành lâm nghiệp có khoảng trên 5.000 cán bộ công nhân viên, lực lượng kiểm lâm khoảng 500 người. Khối lâm trường có khoảng 1.500 người. Trong đó, hơn 320 người có trình độ đại học và trên đại học, khoảng 300 người có trình độ trung học. Các ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ có 136 người, trong đó 40 người có trình độ đại học, 30 người có trình độ trung học. Các đơn vị làm nhiệm vụ chế biến lâm sản và các dịch vụ khác hiện đang có khoảng 3.000 cán bộ, công nhân viên. Trong giai đoạn này, nhiều dự án viện trợ ODA đối với ngành nông nghiệp nói chung và lâm nghiệp nói riêng là rất lớn khoảng 66 triệu USD, góp phần quan trọng phát triển lâm nghiệp nói riêng và Đắk Lắk nói chung.

      Giai đoạn 2006 – 2020: Sau 30 năm giải phóng (1975-2005), không ai có thể phủ nhận được sự đóng góp to lớn của ngành lâm nghiệp trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy về việc tiếp tục đưa ngành lâm nghiệp phát triển bền vững trong tình hình mới, ngày 17/11/2005 UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định 1234/QĐ-UBND phê duyệt Chiến lược Phát triển lâm nghiệp tỉnh đến 2020. 

     Một số mục tiêu cụ thể UBND tỉnh giao cho ngành lâm nghiệp đến 2020.

     1) Xây dựng và bảo vệ bằng được diện tích rừng tự nhiên hiện còn là 587.851,3 ha là mục tiêu rất quan trọng không thể xem nhẹ, từng bước đưa độ che phủ của rừng > 54% vào năm 2020 để đảm bảo chức năng phòng hộ đầu nguồn, môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học đồng thời cung cấp lâm sản, tạo môi trường sản xuất cho các ngành công nghiệp và nhân dân trên địa bàn.

     Thiết lập ổn định và quản lý có hiệu quả 3 loại rừng theo cơ cấu:

     Diện tích rừng đặc dụng: 225.573 Ha (32%)

     Diện tích rừng phòng hộ:  161.856 Ha (23%) 

     Diện tích rừng sản xuất: 316.737 Ha (45%)

     2) Trồng rừng theo phương thức thâm canh với năng suất bình quân tối thiểu 30m3/ha/năm khoảng 65.000 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên ở những nơi có đủ điều kiện (100.000 Ha); phấn đấu đưa lượng tăng trưởng bình quân của rừng tự nhiên đạt 2-3% (đối với rừng khộp) và 3-4% (đối với rừng thường xanh); từng bước nghiên cứu các giải pháp, kỹ thuật lâm sinh phù hợp để làm giàu rừng nghèo kiệt, xây dựng thành rừng thương mại. 

     3) Nâng cấp, đầu tư đổi mới công nghệ chế biến gỗ và lâm sản theo hướng sử dụng có hiệu quả tài nguyên, tăng tỷ lệ lợi dụng gỗ lên > 70%. Xuất khẩu các mặt hàng lâm sản đa dạng, phong phú, tập trung vào hàng mộc, ván ép, ván dăm, phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu gấp 2-2,5 lần như hiện nay đạt 30 triệu US$ vào năm 2020. Góp phần làm tăng tổng sản phẩm trong nước của ngành nông lâm nghiệp 8%/năm.

     4) Thông qua các chương trình, dự án của ngành lâm nghiệp, dự án phát triển rừng và xoá đói giảm nghèo của ADB, các chương trình lồng ghép với các ngành khác để tạo công ăn việc làm cho 80% các hộ sản xuất nông lâm nghiệp, xoá đói giảm nghèo cho 80% các cộng đồng dân tộc sống gần rừng, trong rừng làm cho ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. 

     Cho đến cuối năm 2017, theo kết quả rà soát 03 lọai rừng, diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh là 677.648 ha (chiếm 51,6% diện tích tự nhiên). Trong đó, rừng đặc dụng là 277.813 ha (33,6%), rừng phòng hộ là 79.960 ha (chiếm 11,7%), rừng sản xuất 369.874 ha (54,5%). Về quản lý rừng đã giao cho 09 nhóm đối tượng: bao gồm hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư, UBND cấp xã, các BQL rừng, các Công ty LN và những đối tượng khác.

     Trong giai đoạn 10 năm gần đây (2005-2015) tốc độ tăng trưởng bình quân năm của ngành lâm nghiệp khoảng 7,5% (giai đoạn 2005-2010) và giảm 3,24% (giai đoạn 2011-2015). Nhìn chung, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh (295 tỷ đồng năm 2005, 424 tỷ đồng năm 2010 và 386 tỷ đồng năm 2015 theo giá so sánh 2010). Chưa tương xứng với tiềm năng của ngành.

     Do chưa có điều kiện thời gian, nguồn lực để có thể đánh giá lại đầy đủ toàn bộ những công sức đóng góp của toàn ngành trong 44 năm qua kể từ ngày giải phóng. Song qua những số liệu còn lưu được và những hiểu biết của tác giả đã công tác tại ngành lâm nghiệp từ 1983 đến nay, đã học tập và lớn lên tại Đắk Lắk từ 1977 đến nay. Xin chia sẻ cùng mọi người một số đóng góp của ngành lâm nghiệp tỉnh Đắk Lắk.

     + Tham gia đóng góp nguồn nhân lực Trung ương:

    1) Đồng chí Trần Kiên, nguyên Bí thư Tỉnh ủy, nguyên Bộ Trưởng Bộ Lâm nghiệp;

    2) Đồng chí Phan Thanh Xuân, nguyên Tổng Giám đốc Liên hiệp LNCN Ea Súp, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;

    3) Đồng chí Nguyễn Văn Lạng, nguyên Tổng Giám đốc Liên hiệp LNCN Gia Nghĩa, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ;

    4) Đồng chí Y Ly Niê Kđăm, nguyên Trưởng ty Lâm nghiệp, Tổng Giám đốc Liên hiệp LNCN I Đắk Lắk, Nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, PCT Hội đồng dân tộc Quốc Hội;

    5) Đồng chí Hà Công Tuấn, nguyên Phó Giám đốc Sở Nông lâm, Chánh Văn phòng UBND tỉnh. Hiện nay là Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và PTNT.

     + Các danh hiệu được Nhà nước khen thưởng:

    1) Sở Nông nghiệp và PTNT: Huân chương lao động hạng II, III.

    2) Liên hiệp LNCN Ea Súp: Huân chương lao động hạng II

   3) Nhiều huân chương lao động các hạng, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh.

    4) Một số đơn vị lâm nghiệp được phong tặng đơn vị anh hùng (Lâm trường Rừng Xanh);

    5) Nhiều nhà khoa học, GS, PGS. TS của ngành tại Đắk Lắk đã được Nhà nước phong tặng, ghi nhận.

(ThS. Đào Thị Lan Hoa sưu tầm Bài Báo cáo tham luận của tác giả tại Hội nghị kỷ niệm 60 năm ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 – 26/11/2019)